Trang

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Nhà thơ Hữu Thỉnh tự bạch với sang thu

       Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977”. Đây là chìa khóa của bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc không chú ý”- nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, tác giả của bài thơ “Sang thu” trong SGK lớp 9 tâm sự. Nếu như họ lưu ý đến chữ “Thu 1977” thì sẽ hiểu được rằng đây là một trong những mùa Thu đầu tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến tranh và sự bình yên quý giá biết chừng nào...  
Sang thu

Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
(Thu, 1977 )
        Nhà thơ trầm ngâm kể về thời khắc ông đặt bút viết bài thơ. Năm 1977, ông tham gia trại viết văn quân đội ở một làng ngoại ô Hà Nội (nay là Khương Hạ, Thanh Xuân, Hà Nội). Đất nước ta lúc này vừa trải qua chiến tranh, cuộc sống thanh bình đã trở lại. Trong cái mơ hồ phảng phất gió thu và lá thu đang ngả màu, nhà thơ đã trèo lên cây ổi chín vàng trong cả một vườn ổi bạt ngàn ở nơi này. Không có gì đặc hơn, sánh hơn cái màu, cái mùi ổi chín vàng nhuốm trong cái nắng vàng của mùa Thu.. Không gian cao vút, sâu thăm, yên tĩnh.
Bài thơ bật lên từ đó, ngay khi nhà thơ còn ngồi trên cây ổi, những vần thơ được “được làm trong đầu” chứ chưa đụng chạm gì đến giấy bút. “Bài thơ hình thành rất nhanh và chính tôi cũng lấy rất làm tâm đắc nên thuộc lòng rồi “nhâm nhi” đọc suốt buổi không chán...”.
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se”.
Nhà thơ đã đến với mùa Thu bằng cách ấy, bằng “hương ổi trong gió se” chứ không phải là bằng hình ảnh quen thuộc như vòm trời cao xanh, heo may phảng phất, hương cốm... Giải thích cho sự “khác thường” này, nhà thơ Hữu Thỉnh cho biết: “Mùa Thu biểu hiện rất nhiều hình ảnh khi chuyển mùa. Và tất cả những hình ảnh đẹp cũng đã được các nhà thơ cổ khai thác hết cả rồi. Tôi không muốn lặp lại nữa nên giữa trời đất mênh mang, giữa cái khoảng khắc giao mùa kỳ lạ thì điều khiến cho tâm hồn tôi phải lay động, phải giật mình để nhận ra đó chính là hương ổi. Với tôi, thậm chí là với nhiều người khác không làm thơ thì mùi hương đó gợi nhớ đến tuổi ấu thơ, gợi nhớ đến buổi chiều vàng với một dòng sông thanh bình, một con đò lững lờ trôi, những đàn trâu bò no cỏ giỡn đùa nhau và những đứa trẻ ẩn hiện trong triền ổi chín ven sông... Nó giống như mùi bờ bãi, mùi con trẻ... Hương ổi tự nó xộc thẳng vào những miền thơ ấu thân thiết trong tâm hồn chúng ta. Mùi hương đơn sơ ấy lại trở thành quý giá vì nó đã trở thành chiếc chìa khóa vàng mở thẳng vào tâm hồn mỗi người, có khi là cả một thế hệ...”.
Gửi gắm nhiều điều sâu lắng...
“Bài thơ không chỉ báo cho người đọc biết thu đã trở trong cảnh sắc thiên nhiên mà còn ngay trong cuộc sống của con người, trong tâm hồn tôi và chắc với rất nhiều người yêu thu... “Có đám mây mùa hạ/ Vắt nửa mình sang thu”. Hai câu thơ này không hẳn nói về hiện tượng giao mùa như một số người hiểu và phân tích. Khi tôi viết bài thơ này tôi đã liên tưởng đến những đám mây mùa Hạ. Đó là những đám mây tràn trọn vẹn vào mùa Thu. Thế nhưng có gì ngăn cảm xúc của tôi lại theo chiều hướng đấy... Mây mùa Hạ thường chứa nhiều màu sắc, thậm chí đầy giông bão tựa hồ những ước mơ khao khát của tuổi trẻ. Những ước mơ khao khát ấy thường lấy đi rất nhiều sức lực của tuổi trẻ. Tuy nhiên giữa mơ và thực là hai thế giới luôn đối lập nhau và chẳng phải ước mơ nào cũng trở thành hiện thực.
 
Nhà thơ Hữu Thỉnh 
Ðó giống như là một chân lý và con người phải biết ý thức được một điều rằng không thể đạt được hết những ước vọng tốt đẹp của mình, nhất là những ước vọng đó lại được sinh ra ở thời tuổi trẻ. Sự dang dở, sự mất mát là một hiện thực chúng ta buộc phải chấp nhận trong cuộc sống của mình. Ngay cả người lính cũng vậy. Rất nhiều đồng đội của tôi đã nằm lại ở tuổi còn rất trẻ ở ngưỡng mùa đẹp nhất của cuộc đời. Vì thế nên đám mây trong thơ ấy chỉ “vắt nửa mình sang Thu” thôi. Nửa còn lại đã trở thành ký ức”. Hai câu cuối cùng: Sấm cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi . Chủ thể bài thơ và cái kiêu hùng của mùa Thu đã toát lên chính là ở hai câu thơ này. Đó là cốt cách của một người lính không chỉ là trong một buổi chiều mùa Thu mà là một buổi chiều hòa bình. Có thể nó có vẻ ngang tàng “sấm cũng bớt bất ngờ” nhưng lại mang một vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của mùa thu hòa bình. Ở đây hàng cây đứng tuổi chính là chủ thể trữ tình trong bài thơ đã trải qua bao nhiêu gian nan vất vả, giờ đã vươn lên và không gì làm chúng run rẩy.
Nhiều người bỏ qua “chìa khóa” của bài thơ
Có một chi tiết mà các cô giáo và thầy giáo khi giảng về bài thơ Sang thu làm người sáng tác ra nó không hài lòng. Nhà thơ Hữu Thỉnh tâm sự: “Cuối bài thơ tôi đề là “Thu 1977”. Đây là chìa khóa của bài thơ mà rất nhiều người giảng về bài thơ này không hiểu hoặc không chú ý. Nếu chú ý thì sẽ hiểu thêm được rằng đây là một trong những mùa Thu đầu tiên của người lính vừa bước ra khỏi chiến tranh. Nếu như họ là lính trong thời chiến họ mới hiểu được rằng đôi lúc chúng tôi đã rất mong trên đầu không có tiếng máy bay dù chỉ để được đi tắm giặt, đi hái rau hoặc tranh thủ đọc vài trang sách, mà cũng không có. Suốt ngày người lính trong thời chiến phải đối diện với tiếng súng nổ, tiếng bom rơi và tiếng động cơ phản lực... Chính vì vậy mà có lúc nào đó không phải nghe những âm thanh ấy thì quả là quý giá vô cùng”.
Ông bày tỏ quan điểm: “Giảng văn thơ không nên chỉ phân tích trên văn bản, câu chữ mà hãy tìm hiểu sâu hơn cái tác giả muốn gửi gắm. Nó có thể nằm ngay trên tựa đề bài thơ, câu đề từ, lời ghi chú, ngày tháng hay một lời đề tặng. 
                                                                                 Nguồn: http://thethaovanhoa.vn

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

"Kỷ niệm ấm lòng"-chân dung tự hoạ của một người thầy


         






"Kỷ niệm ấm lòng”, đó là một cuốn tự truyện dài gần 400 trang của thày giáo - GS Lưu Đức Trung -  NXB Thanh Niên phát hành tháng 8/2011. Nhân vật trung tâm là chính tác giả với cuộc hành trình đời người dài hơn 70 năm gắn với những biến cố, những thăng trầm của thời đại.

Kết cấu truyện gồm 7 phần với các tựa đề: Ký ức thời thơ ấu; Thời niên thiếu trong khói lửa; Tuổi thanh niên đầy nhiệt huyết; Những chặng đường trong đời dạy học; Tình yêu và nỗi đa đoan; Những kỷ niệm ấm lòng; Khúc vĩ thanh. Từ phần 1 đến phần 4, cốt truyện chủ yếu được kể theo trật tự thời gian tuyến tính. Từ phần 5 trở đi cốt truyện nghiêng về kiểu thời gian tâm lý. Chính sự thay đổi cách kể chuyện đã tạo nên sức hấp dẫn của cốt truyện.  Đây là cuốn tự truyện mà bất cứ người học trò nào của nhân vật tự truyện cũng muốn có trên giá sách của mình.
          Tự sự là yếu tố quyết định của tự truyện. Với lối kể chuyện nhẹ nhàng, lôi cuốn, cốt truyện được mở ra với một không gian tự sự tương đối rộng, gắn với những năm tháng cuộc đời của nhân vật chính. Ở đó, có mảnh đất Quảng Bình nghèo khó, nơi tác giả sinh ra và sống những năm tháng tuổi thơ, có xứ Nha Trang, Bình Định trong những ngày theo cha công tác, có đất Thanh-Nghệ nơi tác giả vừa phải vất vả kiếm sống vừa học tập, có nước bạn Trung Hoa và trường đại học Nam Kha-lâu đài tri thức của ông; có đất lửa Vĩnh Linh những ngày đầu theo nghề dạy học và đất Hà Thành, gần nửa đời người ông sống và cống hiến với những buồn, vui, trải nghiệm...Trong không gian tự sự đó, nhân vật tự sự phác họa chân dung con người mình.
Trước hết, đó là bức chân dung của một trí thức đã xây lâu đài trí tuệ từ cánh đồng hoang. Con đường tri thức mà ông theo đuổi quả không dễ dàng gì. Mẹ mất sớm, gia cảnh nghèo, sống tha phương, việc học gián đoạn bởi cuộc sống và chiến tranh ác liệt...Đến khi lập nghiệp, mảnh đất văn chương mà ông khai sơn phá thạch cũng đầy chông gai và bí ẩn. Trong khi đó, điểm tựa gia đình, một nhân tố không nhỏ quyết định thành công trong sự nghiệp của người đàn ông, lại lung lay, dễ vỡ.  Nếu không có sự kiên trì nhẫn nại và niềm đam mê, chắc chắn sẽ không giành được trái ngọt. Tác giả khẳng định: “Con người ta có trải qua những năm tháng gian nan nghèo khó mới thấy hết giá trị của hạnh phúc mà ta gặt hái được” (Trích Tự truyện).
Bức chân dung thứ hai, và có lẽ cũng là trung tâm của cuốn tự truyện. đó là chân dung về một người thầy giáo. Phần 4, 5, 6 qua những câu chuyện, khi thì được kể theo trật tự thời gian (Những chặng đời trong nghề dạy học), khi lại đứt đoạn theo những hồi ức, những kỷ niệm...người đọc dễ dàng nhận ra chân dung một người thầy.
Nếu như ai đó nói rằng nghề giáo là nghề cao quý bởi yếu tố truyền nghề thiêng liêng của nó, thì ở đây, qua câu chuyện của mình, GS Lưu Đức Trung đã thuyết phục được độc giả bằng chân lý đó. Từ người đồng nghiệp đầu tiên trên ngôi trường Vĩnh Lĩnh lịch sử, đến những người bạn ở trường Ngoại Ngữ Hà Nội, và rất nhiều đồng nghiệp trong khoa Ngữ Văn ĐHSP Hà Nội I...đã hun đúc lên trong ông ngọn lửa của tình yêu và những đam mê. Để rồi, cũng bằng chính tình yêu đó, ông lại truyền lửa sang lớp lớp thế hệ học trò của mình. Cuốn tự truyện đã ghi lại cả những bức thư, những dòng lưu bút, những câu chuyện cảm động về tình nghĩa thầy trò. Ở đó ta bắt gặp những đam mê nghề nghiệp. Ở đó ta bắt gặp những yêu thương, tình nghĩa...Có thể nói, những trang viết về nghề chính là những trang xúc động nhất của cuốn tự truyện.
Trong suốt cuộc đời mình, hẳn cũng không ít lúc tác giả phải phiền lòng vì những lo toan cuộc sống, những bon chen, hiềm khích, lừa lọc...Song, điều đáng quý là cuốn tự truyện không đề cập đến điều đó, hoặc nếu có chỉ là vài dòng thoáng qua mang nét khôi hài. Đúng như tên của cuốn sách, tác giả chỉ lưu giữ lại những kỷ niệm ấm lòng mà thôi. Mở sách là thấy tấm lòng, tấm lòng đầy bao dung, độ lượng của một người thầy đối với học trò, với đồng nghiệp; thấy tấm lòng của một người cha nhân từ, và tấm lòng vị tha cao cả của người chồng...
 Sẽ là thiếu sót nếu không nói đến một bức chân dung nữa, chân dung nghệ sĩ mà người đọc dễ dàng nhận ra qua tự truyện của Lưu Đức Trung. Một chút hội họa, một tố chất báo chí lãng tử, tư chất nhà thơ... đã góp phần khắc hoạ bức chân dung nghệ sĩ của nhân vật. Để rồi, tất cả được kể lại bằng một giọng văn bàng bạc chất thơ, chất trữ tình, triết lý như thơ Tagor, lôi cuốn và hấp dẫn lòng người.
 (Đăng trên Tạp chí thế giới mới, đặc san kỷ niệm 60 năm Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội, số ra ngày 10/10/2011)
 

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

TRANG THƠ CỦA NHÀ THƠ GIẢI NOBEL 2011


Tomas Transtroemer
Tomas Tranströmer (1931- ) làm thơ từ lúc mới 13 tuổi. Năm 1954, hai năm trước khi tốt nghiệp đại học, ông cho xuất bản tập thơ đầu tay, 17 dikter (17 bài thơ). Tập thơ tức khắc gây nên tiếng vang và được giới phê bình đón nhận như một tài năng thi ca lớn. Thơ của ông được dịch ra tiếng Việt từ nhiều năm trước bởi Diễm Châu, Lê Đình Nhất-Lang, và nxb Văn Học đã in “Toàn tập thơ” (11 tập) của ông vào năm 1990 do Nguyễn Xuân Sanh dịch từ tiếng Pháp. Thơ ông là “nơi ánh sáng và bóng tối, nội tâm và ngoại giới xung đột để tạo nên những nối kết bất ngờ với thế giới, lịch sử và với chính chúng ta.” Để đạt được điều đó, Tranströmer thường quan tâm đến việc làm mới ngôn ngữ. Có lần ông phát biểu: “Ngôn ngữ đồng hành với các đao phủ. Bởi vậy, chúng ta phải tạo ra một ngôn ngữ mới” (The language marches in step with the executioners. Therefore we must get a new language). Cái mới trong ngôn ngữ thơ của Tranströmer thường nằm ở hình tượng. Nhiều nhà phê bình trên thế giới cho ông là một bậc thầy về ẩn dụ (a master of metaphor). Dưới đây là một số bài thơ của ông:


1. DIỄM CHÂU dịch từ bản dịch tiếng Anh “Tracks” của Robert Bly in trong A Book of Luminous Things – An International Anthology of Poetry, Czeslaw Milosz biên tập (Harvest Books, 1998); “Sketch in October” của Robin Fulton và “Below Freezing” của Robert Bly in trong The Vintage Book of Comtemporary World Poetry, J.D. McClatchy biên tập (Vintage Books: 1996). 
Đường ray
Đêm, hai giờ sáng: ánh trăng. Xe lửa đã dừng
giữa cánh đồng. Những chấm sáng xa lắc trong thành phố
lấp lánh lạnh lẽo nơi đường chân trời.
 
Như khi ai đó đã chìm quá sâu trong giấc mơ
sẽ không bao giờ hắn có thể nhớ mình đã ở đó
lúc trở lại căn phòng.
 
Như khi ai đó đã ở quá sâu trong bệnh tật
những ngày tháng cũ trở thành những điểm nhấp nháy, một chùm,
lạnh lẽo và yếu ớt ở chân trời.
 
Xe lửa đang đứng yên.
2 giờ sáng: trăng tròn, vài ngôi sao.

Phác họa tháng mười

Một chiếc tàu kéo lốm đốm gỉ sét. Nó đã làm gì từ đó đến nay
            trên đất liền?
Đó là một chiếc đèn nặng trĩu tắt ngúm trong giá rét
Nhưng những hàng cây có màu sắc hoang dã: gửi tín hiệu đến bờ bên kia.
Như thể những con người muốn được mang đi.
 
Trên đường về nhà, tôi thấy nấm mọc
                                                               xuyên qua bãi cỏ.
Chúng là những ngón tay, đang vươn ra cầu cứu, của một ai đó
đã từ lâu nức nở khóc thầm trong bóng tối dưới kia
Chúng ta là con người trên mặt đất.

TRẦM TƯ XAO ĐỘNG

Một cơn bão làm xoay tít những chiếc cánh máy xay gió
trong đêm đen, đang nghiền nát trống không. — Mi
                               mất ngủ cũng vì một lý sự ấy.
Bụng con cá mập xám là ngọn đèn mờ nhạt của mi.
 
Những kỷ niệm mơ hồ chìm xuống đáy đại dương
để sững lại dưới ấy—những pho tượng dị kỳ. —Xanh rêu
                               là cây nạng của mi. Kẻ
đi biển trở lại hóa đá.
 ĐÁ
Những tảng đá chúng ta đã ném tôi nghe rơi rơi,
trong như pha lê qua năm tháng. Dưới lòng thung
bay đi những việc làm hỗn độn của khoảnh khắc
kêu ré từ
đỉnh cây tới đỉnh cây. Trở thành câm nín
trong bầu khí loãng hơn của hiện tại, chúng lướt nhanh
như chim én qua hết ngọn núi này
tới ngọn núi khác, cho đến khi
tới mãi những vùng cao nguyên xa xôi nhất
ở mép lề cuộc sống. Rơi rơi
mọi hành động của chúng ta
trong như pha lê
không vào một đáy sâu nào hết
ngoại trừ ở bên trong chính chúng ta.
 
(17 bài thơ, 1954)
 

NHỮNG BÍ MẬT TRÊN ĐƯỜNG

Ánh sáng ban ngày đụng phải người nằm ngủ.
Y mơ một giấc mơ xao động hơn
nhưng không tỉnh dậy.
 
Bóng tối đập vào khuôn mặt kẻ đang bước
giữa hết thảy những người khác dưới những tia nóng nảy
của một mặt trời gay gắt.
 
Đột nhiên trời u ám như trước một trận mưa rào.
Tôi đang ở một nơi chứa đựng mọi khoảnh khắc —
một viện bảo tàng bướm*
 
Tuy nhiên mặt trời lúc ấy vẫn mạnh như trước.
Những cây cọ nóng nảy của mặt trời đang vẽ thế giới.
 
(Những bí mật trên đường, 1958)
 
————————-
* «musée de lépidoptères», theo bản Pháp văn. (ND.)

LISBOA

Những chiếc tầu điện màu vàng reo ca trên những con dốc ở khu phố Alfama.
Ở đấy có hai nhà tù. Một dành cho những kẻ trộm cắp.
Những người này vẫy tay qua hàng rào song sắt ở cửa sổ.
Họ kêu la họ muốn được chụp hình!
 
«Nhưng ở đây», người bán vé nói với tôi, nhạo cười như một kẻ ngại ngần,
«ở đây người ta nhốt tù chánh trị đấy». Tôi nhìn cái tiền diện, cái tiền diện, cái tiền diện
và tít trên cao trong một khung cửa sổ, có một người đàn ông
với ống nhòm trước mắt đang ngắm biển.
 
Áo quần phơi phóng trên trời. Các vách tường nóng bỏng.
Những con ruồi đang lần mò dò những chữ nhỏ xíu.
Sáu năm sau tôi hỏi một bà ở Lisboa:
«Có phải là đúng như thế không hay là tôi tưởng tượng ra?»
 
(Hòa âm và vết tích, 1966)
 VỚI DÒNG SÔNG
Chuyện trò với những người đồng thời với tôi, tôi đã thấy, tôi đã nghe sau khuôn mặt của họ
dòng sông
đang trôi đi đang trôi đi cuốn theo cùng với nó những người tình nguyện và những người không được tình nguyện như thế
 
Và con người với đôi mắt phết hồ
những muốn ruổi rong giữa dòng chảy
không run rẩy lao mình xuống đấy
trong một nhu cầu giản dị thật dữ dội
 
Qua đi những dòng nước lúc nào cũng ào ạt hơn
như ở đây nơi dòng sông xiết chặt lại và biến thành
thác — ở nơi tôi dừng chân
sau một chuyến đi trong những khu rừng héo khô
 
một buổi chiều tháng Sáu: đài bán dẫn truyền đi tin mới nhất
về phiên họp đặc biệt. Kossyguine, Eban.
Một vài ý tưởng họa hiếm khuấy nhiễu tôi không thôi.
Một vài người họa hiếm ở dưới kia trong làng.
 
Và, dưới cây cầu treo, những khối nước sụp xuống
dưới mắt tôi. Kìa gỗ nổi đã đến. Một vài mình cây
lao thẳng tới như những trái ngư lôi. Những thân cây khác
xoay ngang, xoay vòng vô phương và lười biếng
 
hay bỏ đi hít mạnh đôi bờ
len lỏi giữa đá tảng và củi giạt, kẹt cứng
dồn đống như những bàn tay chắp lại
trơ ra trong tiếng ồn ào huyên náo này…
 
                           tôi đã thấy, tôi đã nghe trên cây cầu treo
trong một đám mây muỗi
với mấy đứa con trai. Xe đạp của chúng
vùi dưới đám lá xanh — duy những chiếc sừng
ló ra.
 
(Những viễn ảnh ban đêm, 1970)
 GỬI NHỮNG NGƯỜI BẠN Ở BÊN KIA MỘT BIÊN GIỚI
 
I .Tôi đã viết cho các bạn thật ít ỏi. Nhưng những gì tôi không thể viết
đã phồng lên và phồng lên như một khinh khí cầu kiểu xưa
và cuối cùng trôi đi qua bầu trời đêm.
 
II.
Lá thư lúc này ở nơi người kiểm duyệt. Y bật đèn.
Trong ánh sáng chói chang những chữ của tôi bay lên như những con khỉ trên tấm song sắt,
rung lách cách, dừng lại, và nhe răng.
 
III.
Hãy đọc giữa những hàng chữ. Chúng ta sẽ gặp nhau trong 200 năm nữa
khi những máy vi âm trên vách tường khách sạn bị quên đi
và rốt cuộc có thể ngủ yên, trở thành những giống tôm cua hóa thạch thời nguyên thủy.
 
(Những lối mòn, 1973)

Dưới độ đóng băng

Chúng tôi đang dự một buổi tiệc không ưa chúng tôi. Cuối cùng buổi tiệc để rơi mặt nạ và lộ nguyên hình: nó là một bến đổi cho những tàu chở hàng. Trong sương mù những khối khổng lồ lạnh lùng đứng trên đường ray. Vết phấn nguệch ngoạc trên cửa tàu.
 
Người ta không thể nói lớn, nhưng có rất nhiều bạo động bị đè nén ở đây. Đó là lý do tại sao các đồ trang bị trông có vẻ quá nặng nề. Và tại sao rất khó để thấy sự hiện diện của những thứ khác: một vạt nắng di chuyển trên những bức tường nhà và lướt qua một rừng những khuôn mặt vô tình nhấp nhánh, một câu thánh kinh chưa bao giờ được chép xuống: “Hãy đến với tôi, bởi tôi cũng đầy những mâu thuẫn như bạn.”
 
Sáng hôm sau tôi làm việc ở một thị trấn khác. Tôi lái xe vun vút trong buổi bình minh giống như một chiếc xi lanh màu xanh thẫm. Sao Thiên Lang treo lơ lửng trong băng giá. Trẻ em đứng trong một đám đông im lặng, đợi những chiếc xe buýt của trường, những đứa con nít không ai mong đợi. Ánh sáng mọc lên dần như tóc của chúng tôi.
 
———————
2. LÊ ĐÌNH NHẤT-LANG dịch từ bản dịch Anh ngữ của Robert Bly các bài thơ “The Storm”, “The Man Awaken by a Song above His Roof”, “Kyrie”, “The Couple”, “The Tree and the Sky”, “A Winter Night”, “Dark Shape Swimming”, “Slow Music”, và “Breathing Space July” trong thi tuyển của Tomas Tranströmer, The Half-Finished Heaven (Saint Paul, MN: Graywolf Press, 2001).

Gọi về nhà

Một cú điện thoại chảy tràn vào đêm, và nó lấp loáng đây đó
     trên những cánh đồng, và ở những vùng ngoại thành.
 
Sau đó tôi ngủ không yên trên giường khách sạn.
 
Tôi giống cây kim địa bàn người chạy định hướng mang theo
     khi anh chạy với quả tim đập mạnh.
 Cơn bão
Người đàn ông trên một lối đi bộ bỗng nhiên gặp cây
sồi cổ đại như một con nai sừng tấm hoá đá với
cặp sừng khổng lồ nổi lên trên tường thành màu lục đậm
          của đại dương mùa thu.
 
Cơn bão từ phương bắc. Ðã gần đến lúc quả
thanh hương trà chín tới. Thao thức trong đêm hắn
nghe thấy những chòm sao xa phía trên cây sồi
          giậm chân trong chuồng.

Người đàn ông bị đánh thức bởi một bài hát phía trên mái nhà

Sáng. Mưa tháng Năm. Thành phố vẫn im lìm
như túp lều của một người chăn cừu. Ðường sá im lìm. Và trên
trời một động cơ máy bay đang ầm ầm màu lục hơi xanh lơ.—
          Cửa sổ mở.
 
Giấc mơ của người đàn ông đang ưỡn người ngủ
trong giây phút đó trở thành trong suốt. Hắn trở mình, bắt đầu
mò mẫm dụng cụ của ý thức hắn—
          gần như trong không gian.

Kyrie

Thỉnh thoảng cuộc đời tôi mở to mắt trong bóng tối.
Một cảm giác về những khối người xô đẩy mù quáng
qua đường phố, một cách khích động, đi về một phép lạ nào đó,
trong khi tôi nằm đây và không ai trông thấy tôi.
 
Cũng giống như một đứa trẻ thiếp ngủ trong khiếp sợ
lắng nghe tiếng đập nặng nề của tim nó.
Trong một lúc lâu, thật lâu tới khi bình mình đặt ánh sáng vào ổ khoá
rồi cánh cửa của bóng tối mở ra.

Cặp vợ chồng

Họ tắt đèn đi, và quả cầu trắng của nó rực lên
trong giây lát rồi tan ra, như một viên thuốc
trong một cái ly của bóng tối. Rồi một cuộc nổi dậy.
Những bức tường khách sạn đâm lên bóng đêm cõi trời.
 
Những cử động của họ yếu dần, và họ ngủ,
nhưng những ý nghĩ thầm kín nhất của họ bắt đầu gặp gỡ
như hai màu gặp gỡ và loang vào nhau
trên tờ giấy ướt trong bức vẽ của một cậu học trò.
 
Trời tối và yên tĩnh. Tuy nhiên thành phố đã tới gần
đêm nay. Với các cửa sổ của nó đóng lại. Nhà cửa kéo tới.
Chúng đứng chen chúc và chờ đợi rất gần,
một đám đông người với những khuôn mặt trống rỗng.

Cái cây và bầu trời

Cái cây bước quanh trong cơn mưa
đi qua chúng ta trong màu xám ướt át.
Nó có một việc phải làm. Nó nhặt sự sống ra khỏi cơn mưa
như một con sáo trong vườn anh đào.
 
Khi mưa vừa dứt, cái cây cũng ngừng.
Nó chỉ đứng đó, không động đậy trong những đêm quang đãng,
chờ y như chúng ta chờ tới cái thời điểm đó
khi những bông tuyết tự quăng mình ra không gian.

Một đêm đông

Cơn bão đặt môi nó vào căn nhà
     và thổi để làm một tiếng động.
Tôi ngủ không yên, trở mình, với mắt
     nhắm đọc cuốn sách của cơn bão.
 
Nhưng mắt đứa trẻ mở lớn trong bóng tối
     và cơn bão khóc thút thít cho đứa trẻ.
Cả hai thích xem bóng đèn đong đưa.
     Cả hai đang ở nửa đường đi tới tiếng nói.
 
Những cơn bão có tay như trẻ em và có cánh.
     Ðoàn xe vùng chạy về phía Lapland
và căn nhà cảm nhận được những chùm đinh
     giữ những bức tường của nó lại với nhau.
 
Ðêm yên tĩnh bên trên tầng của chúng tôi
     (nơi mọi bước chân đã chết đi
đang nằm như những chiếc lá chìm trong ao
     nhưng bên ngoài thì đêm dữ dội!)
 
Một cơn bão nghiêm trọng hơn đang qua trên tất cả chúng ta.
     Nó đặt môi vào linh hồn ta
và thổi để làm một tiếng động. Ta sợ
     cơn bão sẽ thổi bay hết mọi thứ trong ta.

Dáng thẫm đang bơi

Một bức hoạ Thời Ðồ Ðá
trên một tảng đá Sahara:
một hình dáng mờ nhạt bơi
trên một dòng sông nguyên sơ cổ đại.
 
Không có vũ khí, không một kế hoạch,
không nghỉ ngơi mà cũng không vội vã,
người bơi tách ra khỏi cái bóng của hắn
đang tuột lại dọc theo đáy sông.
 
Hắn đã chiến đấu để vượt thoát
khỏi hàng triệu chiếc lá đang ngủ,
để tới được bờ bên kia
và nhập lại vào cái bóng của hắn.

Nhạc chậm

Toà nhà không mở cửa hôm nay. Nắng chen vào qua những khung cửa sổ
và làm ấm mặt trên của cái bàn giấy
đủ mạnh để mang số mạng của những kẻ khác.
 
Hôm nay chúng tôi ở ngoài trời, trên triền dốc dài rộng.
Vài người mặc đồ sậm. Nếu bạn đứng trong nắng, và nhắm mắt lại,
bạn cảm thấy như bạn đang được thổi về phía trước.
 
Tôi rất ít khi xuống tới biển. Nhưng lúc này tôi đã tới,
giữa những tảng đá cỡ lớn với những tấm lưng êm ả.
Những tảng đá đã đi lùi dần ra khỏi biển.

Khoảng thở tháng Bảy

Người đàn ông nằm ngửa dưới những đại thụ
hắn cũng ở trên cây. Hắn phân ra thành hàng ngàn nhánh nhỏ.
Hắn lắc lư qua lại,
hắn ngồi trên chiếc ghế giàn phóng ầm ầm đi tới trong cảnh quay chậm.
 
Người đàn ông đứng dưới ụ tàu vít cặp mắt mình vào mặt nước.
Ụ tàu già nhanh hơn người ta.
Chúng có những cây cột xám bạc và đá cuội trong ruột chúng.
Ánh sáng loá mắt đâm thẳng vào.
 
Người đàn ông nằm nguyên ngày trên một con thuyền không mui
đang đi qua những bờ vịnh phát sáng
cuối cùng sẽ ngủ thiếp đi bên trong cái chụp đèn xanh của hắn
khi những hải đảo bò như loài bướm đêm khổng lồ trên mặt địa cầu.
————-
Nguồn: tienve.org

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

Ngữ văn K44 - ngày hội khoa


Trời mưa quá, các bạn trú ở đâu hết rồi?
Chụp tại nhà hàng Ngọc Vân -638/Lạc Long Quân
Chủ quán là bạn Hoa lớp C, người đầu tiên bên trái.
Món ăn rất ngon, chỗ ngồi rộng thoáng. Năm sau chúng mình lại vào đây nhé!

Lớp B đâu rồi, đứng vào đây chụp 1 kiểu nào.

Mình, Yến yểu điệu và "hạt đậu mùa thu"


Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

Chị lao công

Leng keng. Leng keng. Leng keng. 5h30 chiều.
 Hôm nào tôi cũng cố đợi xe rác đến rồi mới đi làm, vậy nên, hôm nào tôi và chị cũng gặp nhau.
“Chào chị, hôm nay nhiều rác quá chị nhỉ”. “Ừ, vào cuối tuần rác thường nhiều hơn”. “Chị cầm lấy ít giấy vụn và lon bia này, hôm nay em dọn nhà”. “Cảm ơn em!, à, hôm qua gặp tụi nhỏ nhà em ở rạp hát, trông các cháu giống bố quá”. “Chị cũng tới rạp hát à?”- tôi không giấu nổi ngạc nhiên, chợt nhớ đã vài lần gặp chị đưa con đi chơi công viên, bờ hồ, đi pícníc...  “ Ừ, thỉnh thoảng rỗi rãi, vợ chồng mình cũng cho các cháu đi xem phim, xem ca nhạc”. “Nhưng vé ở đó rất đắt, chị có giấy mời à?” “Làm gì có, mình thường nhờ mua vé gốc, khu vực C, giá cũng phải chăng”...
Leng keng. Leng keng. Leng keng. 5h30 chiều.
“Chào chị!” “Ừ, chào em. Phóng sự rác của em hôm qua hay đấy”. “Chị cũng xem chương trình ạ?”. “Chương trình địa phương mình không bỏ buổi nào. Phóng sự của em có ưu điểm là thâm nhập thực tế khá tốt, song hình như vẫn còn thiếu một cái gì đó”. “Thiếu cái gì cơ” – tôi tỏ vẻ không hài lòng, thoáng trong đầu là ý nghĩ: chị thì biết gì mà bình luận về báo chí. “Đó là giải pháp cho vấn đề rác thải”- Chị vẫn bình thản, dứt khoát- Nhưng phần cuối em đã nói giải pháp rồi mà: “mỗi người tự thức tỉnh, đó là giải pháp!”. Chị không nói gì, chào tôi và tiếp tục công việc của mình.
          Leng keng. Leng keng. Leng keng. 5h40 chiều.
          Tôi tỏ vẻ bực bội, hôm nay có buổi  truyền hình trực tiếp do tôi phụ trách. “Chào anh, sao hôm nay muộn thế, chị lao công mọi khi đâu rồi?”. “Đi lĩnh phần thưởng rồi!”. “Phần thưởng cơ ạ, chắc cơ quan biểu dương chiến sĩ thi đua à anh?”. “Không, giải thưởng quan trọng lắm, nghe đâu còn truyền hình trực tiếp” . “Truyền hình trực tiếp?”- tôi hơi chột dạ- nhưng chắc anh ta khôi hài thôi, tối nay chúng tôi phát sóng trực tiếp lễ trao giải “Giải thưởng khoa học về môi trường cơ mà”.
          7h30. Sân khấu trang hoàng lộng lẫy. Tôi bước ra với vai trò MC.  Sau thủ tục giới thiệu, tôi được thay mặt ban tổ chức mở phong bì công bố giải thưởng. Cả sân khấu lặng đi vì bất ngờ: Giải đặc biệt năm nay không thuộc về một nhà khoa học nào cả mà thuộc về một nữ công nhân quét rác. Tôi còn bất ngờ hơn khi người bước ra sân khấu nhận giải là chị. Điều đặc biệt nữa là chị đã làm ra sản phẩm từ chính những chiếc lon bia lượm được khi thu gom rác. Nhìn chị, tự dung tôi cảm thấy ngượng về những suy nghĩ và cách nhìn trước đây của mình.
          Leng keng. Leng keng. Leng keng. 5h30 chiều.
          Chị vẫn đẩy xe rác như mọi khi, nhưng chiếc xe không còn nặng nữa. Dọc hai bên phố đã mọc lên những chiếc thùng rác thông minh - sản phẩm đặc biệt vì môi trường của chị. Những đứa trẻ, trong đó có con tôi rất thích  những chiếc thùng rác biết nói này. Chúng hồ hởi làm theo lời nhắc nhở của những chiếc thùng rác.
          Bây giờ tôi đã hiểu vì sao chị nói bài phóng sự của tôi chưa có phần kết. Chính chị đã viết tiếp phần kết cho tôi một cách đầy đủ và ý nghĩa nhất.

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2011

Có anh bên đời

Hồ Vị Xuyên đêm nao vào thu
Đường Nguyễn Du, bờ hồ, hương hoa sữa...
Đâu gốc si già có câu thơ viết dở
Theo anh về, vần thơ cũng bỏ quên.

Hồ Vị Xuyên vẫn dịu ngọt hàng đêm
Hoa sữa vẫn thơm lối mình dạo bước
Lời anh bên tai vẫn dịu dàng như thuở trước
Vần thơ năm nào lại thức dậy trong em.

Hãy giữ lại giây phút này nghe anh
Đứng cạnh bên nhau cùng mùa thu, hoa sữa
Để em đổi vần cho bài thơ năm cũ
Có anh bên đời, thơ cũng khác xưa...

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Cột cờ Nam Định



      Cột cờ Nam Định nằm trên đường Tô Hiệu thuộc phường Ngô Quyền – TP Nam Định. Thời xưa, Cột cờ Nam Định còn gọi là kỳ đài. Đây là một trong bốn cột cờ được xây dựng vào đầu thời Nguyễn,là Cột cờ Kinh thành Huế (1807), Cột cờ Hà Nội (1812) và Cột cờ Thành Bắc Ninh (1838). Căn cứ theo một số tư liệu, Cột cờ Thành Nam xây cùng thời với Cột cờ Hà Nội. Công trình này được bổ sung thêm nhiều ở phía trên đỉnh nên đến năm Quý Mão (1843) mới hoàn tất.

Cột cờ Nam Định ngày nay gồm ba phần chính là chân đế (phần bệ), thân cột (thân dài) và vọng canh (vọng lâu). Cột cờ Nam Định cao 23,84m; nằm ở phía nam Thành cổ, cách đình Vọng Cung (nay là chùa Vọng Cung) khoảng 100m. Sân Cột cờ xưa được xây thành sân hành lễ, hình vuông, có hàng lan can ở bốn cạnh. Phía nam đặt hai khẩu súng thần công. Phía đông có lư hương tưởng nhớ các liệt sỹ hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp để bảo vệ Cột cờ - Thành cổ vào các năm 1873 và 1883.
Chân đế Cột cờ gồm hai bệ hình vuông. Bệ trên thu nhỏ lại so với bệ dưới. Xung quanh phía ngoài của hai mặt bệ đều xây lan can. Bệ dưới mỗi cạnh dài 16,33m; cao 2,40m. Từ bệ dưới lên bệ trên đều có bậc lên xuống. Bệ trên mỗi cạnh dài 11,42m; cao 3,10m. Bốn mặt bệ đều xây lan can và trổ bốn cửa. Trên mặt bệ thứ hai, có cửa đi vào thân Cột cờ (thân đài). Trên cửa phía đông có hai chữ Nghênh húc (đón ánh ban mai); cửa phía nam có hai chữ Hướng quang (hướng theo đức sáng). Dưới bệ có đền thờ Bà chúa Cột cờ - Giám thương công chúa Nguyễn Thị Trinh liệt nữ đầu tiên, hy sinh trong trận quân xâm lược Pháp đánh chiếm thành Nam Định ngày 11-12-1873 (phát hiện khảo cổ học năm 2002 – Viện khảo cổ học Việt Nam – Lê Bá Ngọc).
Thân cột cờ cao 12,65m thu nhỏ dần về phía trên với hai phần: Phần dưới xây hình trụ bát giác, mỗi cạnh 2,20m, phần trên xây hình tròn đường kính đáy 3,25m. Trong thân cột cờ có cầu thang xoáy trôn ốc, gồm 54 bậc đi lên vọng canh, được chiếu sáng bằng 32 ô cửa sổ hình hoa thị của tám mặt thân cột cờ. Phần vọng canh xây hình trụ tròn có hàng lan can, 4 cửa vòm và 8 ô cửa sổ nhỏ. Từ mặt vọng canh có thang sắt nhỏ lên đỉnh Cột cờ. Trên đỉnh Cột cờ có thể nhìn thấy những vùng núi, sông, cánh đồng của tỉnh Nam Định và ba tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình.
Cột cờ xây bằng gạch nung già, màu đỏ sẫm có kích thước 0,30m x 0,14m x 0,07m. Các góc vuông của hai tầng bệ xây bằng một loại gạch chuyên một đầu vát 450, còn các góc 1200 của thân cột trụ bát giác là một loại gạch riêng. Gạch lát nền kích thước 0,28m x 0,28m x 0,07m, màu nâu đen.
Cột cờ Thành Nam gắn liền với nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng. Ngày 27/3/1883, tàu chiến của Pháp từ sông Đào bắn phá vào trong Thành. Tại cột cờ, ở độ cao 11m, về phía Nam còn một vết đạn cắm sâu vào 4cm, đường kính 6cm. Thời kỳ hoạt động bí mật, nhiều cán bộ, Đảng viên vẫn lấy Cột cờ làm nơi liên lạc và sinh hoạt để bàn kế chỉ đạo phong trào. Năm 1967, Nam Định bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt. Đỉnh Cột cờ là nơi tổ quan sát máy bay do đồng chí La Vĩnh Hào - tự vệ nhà máy Dệt chỉ huy làm nhiệm vụ viễn tiêu.
Ngày 11-6-1972, máy bay Mỹ lao vào đánh phá thành phố Dệt. Vào hồi 10 giờ 10 phút sáng, chúng đã bắn rocket và ném bom trúng vào khu vực Cột cờ làm sập toàn bộ công trình kiến trúc cổ kính này. Năm 1997, kỷ niệm 43 năm ngày giải phóng thành phố Nam Định, Cột cờ đã được phục dựng lại nguyên dạng.
Gần hai thế kỷ qua, cột cờ Thành Nam đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử, sự đổi thay của đất nước, quê hương. Đây là một công trình kiến trúc cổ, có giá trị lịch sử và văn hóa và còn là biểu tượng khơi dậy lòng yêu quê hương, đất nước, ý thức tự hào, quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền, độc lập, tự do của Tổ quốc Việt Nam. Hàng năm, nơi đây đón hàng trăm đoàn khách trong nước và quốc tế đến thăm quan và thắp hương tưởng nhớ Bà chúa Cột cờ. Năm 1962, Cột cờ Nam Định đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.
                      (Nguồn: http://www.dulichnamdinh.com.vn/)